1. Đặc điểm thực
vật học:
a. Rễ: Rễ thuộc loại rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả
năng phát triển rễ phụ rất lớn. Trong điều kiện thích hợp những giống tăng
trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1-1,5 m và rộng 1,5-2,5 m vì vậy cà chua chịu hạn tốt.
b. Thân: Thân tròn, thẳng
đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ. Thân mang
lá và phát hoa. Ở nách lá là chồi nách.
c. Lá: Lá cà chua thuộc loại
lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3-4 đôi lá chét, ngọn lá có một lá riêng gọi là
lá đỉnh. Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống. Phiến lá thường
phủ lông tơ.
d. Hoa: Hoa mọc thành chùm,
lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy giống và
thời tiết, thường từ 5-20 hoa.
e. Trái: Trái thuộc loại mọng
nước, hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài. Vỏ có thể nhẵn hay có khía,
màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết. Thường màu sắc trái
là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái.
2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:
Thích hợp từ 21-24oC,
nếu nhiệt độ đêm thấp hơn ngày 4-5oC thì cây cho nhiều hoa. Cà chua
là cây ưa sáng, không nên gieo cây con ở nơi bóng râm, cường độ tối thiểu để
cây tăng trưởng là 2.000-3.000 lux, không chịu ảnh hưởng quang kỳ. Ở cường độ
ánh sáng thấp hơn hô hấp gia tăng trong khi quang hợp bị hạn chế, sự tiêu phí
chất dinh dưỡng bởi hô hấp cao hơn lượng vật chất tạo ra được bởi quang hợp, do
đó cây sinh trưởng kém.
Yêu cầu nước của cây trong quá
trình sinh trưởng, phát triển không giống nhau. Khi cây ra hoa đậu trái và trái
đang phát triển là lúc cây cần nhiều nước nhất, nếu đất quá khô hoa và trái non
dễ rụng; nếu đất thừa nước, hệ thống rễ cây bị tổn hại và cây trở nên mẫn cảm
với sâu bệnh. Nếu gặp mưa nhiều vào thời gian này trái chín chậm và bị nứt.
Lượng nước tưới còn thay đổi tùy thuộc vào liều lượng phân bón và mật độ trồng.
Cà chua có thể trồng trên
nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất vẫn là đất có cấu tượng nhẹ,
nhiều mùn, giữ ẩm và thoát nước tốt (Đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát, đất
bazan,…), pH từ 5,5-7,5, thích hợp nhất từ 6-6,5.
Phần II. Kỹ thuật
trồng và chăm sóc:
1. Giống: Tùy theo điều kiện và nhu cầu
của thị trường để chọn giống. Hiện nay, Anna và Kim Cương là hai giống được
trồng phổ biến, giống Anna có hình thức quả phù hợp với thị hiếu người tiêu
dùng, có khả năng kháng bệnh tốt trong mùa mưa nên được bà con nông dân trồng
nhiều.
Các giống trên ghép với gốc cà chua
Vimina để kháng bệnh héo rũ vi khuẩn.
Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:
Giống
|
Độ tuổi
(ngày)
|
Chiều cao cây (cm)
|
Đường kính cổ rễ (mm)
|
Số lá thật
|
Tình
trạng cây
|
Cà
chua
|
22-25
|
12 - 15
|
2,5-3,5
|
5 - 6
|
Cây
khoẻ mạnh, không dị hình, rễ trắng, ngọn phát triển tốt, không biểu hiện
nhiễm sâu bệnh
|
Cà
chua ghép
|
30-35
|
12 -
15
|
2,5-3,5
|
5 - 6
|
Cây
khoẻ mạnh, không dị hình, vết ghép liền da, rễ trắng, ngọn phát triển tốt,
không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh
|
2. Chuẩn bị đất: Chọn đất trồng cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy, … (không gần nguồn
nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện). Đất tơi xốp, nhẹ, nhiều
mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt. Vệ sinh vườn trồng, dọn sạch tàn dư
thực vật của vụ trước, rải vôi trước khi cày xới để diệt một số nấm hại trên
mặt đất, phơi ải 7-10 ngày trước khi trồng. Mùa khô lên luống
15-20cm, rãnh 30cm, mặt luống rộng 1,2m trồng
hàng đôi. Mùa mưa lên luống 25-30cm, rãnh 30cm, mặt luống rộng 90 cm, trồng
hàng đơn.
Sử dụng màng phủ nông nghiệp để giữ ẩm, hạn chế dinh
dưỡng bị rửa trôi, hạn chế cỏ dại, sâu bệnh.
Cách sử dụng màng phủ
nông nghiệp: Vật liệu và qui cách: Dùng màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng hàng đơn,
màng khổ 1,4m trồng hàng đôi. Khi phủ mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng
xuống.
- Lên luống cao 15-20cm tùy mùa, mặt luống phải làm bằng
phẳng để tăng độ bền màng phủ.
- Bón phân lót: Liều lượng như phần phân bón, cách bón
phân, trường hợp bón thúc, đục thêm lỗ gần với gốc cây và sau đó rãi phân vào
lỗ đã đục thêm.
- Xử lý mầm bệnh: Phòng trừ nấm bệnh, tuyến trùng và các
sâu hại trong đất trước khi đậy màng phủ.
- Đậy màng phủ: Kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được
cố định bằng cách dùng dây kẽm bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10cm ghim sâu
xuống đất (dây kẽm sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạt ghim mé liếp.
3. Trồng và chăm sóc:
- Kỹ thuật trồng: Trồng vào buổi chiều mát, khi trồng đặt cây nhẹ nhàng không nén đất quá
chặt (Lưu ý: cây cà chua ghép không
lấp đất cao quá vết ghép. Ở những ruộng trống trải, nhiều gió nên dùng
cây choái cũ (ngắn khoảng 30cm), cắm cạnh cây và choàng một sợi dây thun để cây
tựa, phòng đổ ngã). Sau khi trồng phải tưới nước ngay để giữ ẩm, dự
phòng 5% cây con đúng tuổi để dặm, trồng ra ruộng (trồng giữa các cây trên
hàng), để tiện cho việc bứng dặm sau này.
+ Mùa khô trồng hàng đôi: hàng x hàng 70cm, cây x cây 50
cm theo kiểu nanh sấu. Mật độ: 27.000 cây/ha.
+ Mùa mưa: Trồng hàng đơn hàng x hàng 1-1,2m, cây x cây
50-60cm, mật độ 18.000-20.000 cây/ha.
Từ 7-10 ngày sau trồng tiến hành kiểm tra trồng dặm lại
các cây bị chết.
- Làm cỏ: Cần phải có
biện pháp phòng trừ cỏ dại sớm và duy trì cho đến khi cây cà chua có thể cạnh
tranh hiệu quả với cỏ dại. Phải phòng trừ cỏ dại trước khi ra hoa. Phòng trừ cỏ
dại thông qua các biện pháp như:
+ Biện pháp cơ giới: Nhổ bỏ cỏ bằng
tay, bằng cuốc hoặc máy cắt cỏ.
+ Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc diệt cỏ trước nảy mầm. Lựa chọn thuốc
diệt cỏ phù hợp không gây tổn thương đến sự phát triển của cây.
- Tưới nước: Từ khi trồng đến hồi xanh
tưới 1-2 lần/ngày, sau đó tùy điều kiện thời tiết và độ ẩm đất tưới để tưới,
đảm bảo ẩm độ đất khoảng 60-70%; Khi cây cà chua ra hoa cần lượng nước nhiều
hơn, đảm bảo ẩm độ đất 70-80%. Mùa mưa chú ý thoát nước, không để ruộng cà chua
ứ đọng nước lâu.
- Vun xới: Sau trồng 7-10 ngày xới phá váng, sau trồng
20-25 ngày kết hợp bón phân cho cây cà chua, vun cao luống, để tránh tình trạng
đọng nước giữa hàng, bộ rễ phát triển kém. Loại bỏ cây bệnh, quả bệnh, sâu… mùa
mưa tỉa bớt lá chân, lá già đã chuyển vàng để vườn được thông thoáng. Gom lá
bệnh tiêu hủy xa vườn trồng hoặc gom tập trung để ủ làm phân hữu cơ.
- Làm giàn: Khi cây cao 40-60cm làm giàn để giúp cây phân
bố đều trên luống, thuận tiện cho việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
- Tỉa chồi: Cần tỉa kịp thời khi nhánh mới
nhú ra 3-5cm để dinh dưỡng tập trung nuôi quả, thường xuyên tỉa bỏ mầm nách vô
hiệu. Dùng tay đẩy gãy, không dùng móng tay ngắt hoặc dùng kéo cắt vì dễ nhiễm
bệnh qua vết thương.
- Tỉa lá: Tỉa bớt lá
chân, lá già của cây đã chuyển sang màu vàng để vườn thông thoáng, nhất là
những vườn rậm rạp, dễ gây nhiễm bệnh trong mùa mưa. Tuy nhiên, mùa khô cần để
lá chân để che bớt nắng tránh bị rám quả.
- Tỉa quả: Mỗi chùm quả
chỉ để 4-6 quả, ngắt cuối cành mang quả để dinh dưỡng tập trung nuôi quả tạo
cho quả lớn đều cỡ, giá trị thương phẩm cao.
- Bấm ngọn: Đối với giống có thời gian sinh trưởng dài, cao cây, trong giai
đoạn gần cuối thu hoạch nên bấm ngọn để quả lớn đều, thu tập trung giúp.
4. Phân bón và cách bón phân: Tính cho 1 ha.
Phân bón: Phân hữu cơ: 40
tấn; Vôi: 1-1,5 tấn; Borat: 5kg; canxi bo: 50kg; hữu cơ vi sinh: 1.000kg; Chế
phẩm Trichoderma: 300-350 kg/ha.
- Phân hoá học nguyên chất: 240kg N -
90 kg P2O5 - 275kg K2O.
Lưu ý: Đổi lượng phân hóa học nguyên chất sang phân đơn tương
đương hoặc NPK.
Cách 1: Urê: 522kg; Super Lân: 562,5 kg; Kali: 458kg.
Cách 2: NPK 15-5-20: 1375kg; Urê: 73kg; Super lân: 133kg.
Bón theo cách 1:
Hạng
mục
|
Tổng
số
|
Bón
lót
|
Bón
thúc
|
|||
Lần 1
10NST
|
Lần 2
25 NST
|
Lần 3
40 NST
|
Lần 4
55 NST
|
|||
Phân chuồng
|
40 tấn
|
40 tấn
|
||||
Hữu cơ
vi sinh
|
1.000 kg
|
1.000 kg
|
||||
Vôi
|
1.500 kg
|
1.500 kg
|
||||
Borat
|
5 kg
|
5 kg
|
||||
Urê
|
522 kg
|
122 kg
|
40 kg
|
90 kg
|
120 kg
|
150 kg
|
Lân
super
|
562,5 kg
|
412,5 kg
|
150 kg
|
|||
Kali
|
458 kg
|
208 kg
|
80 kg
|
120 kg
|
||
Can
xi-bo
|
50 kg
|
25 kg
|
25 kg
|
|||
Bón theo cách 2:
Hạng
mục
|
Tổng
số
|
Bón
lót
|
Bón
thúc
|
|||
Lần 1
10NST
|
Lần 2
25 NST
|
Lần 3
40 NST
|
Lần 4
55 NST
|
|||
Phân chuồng
|
40 tấn
|
40 tấn
|
||||
Hữu cơ
vi sinh
|
1.000 kg
|
1.000 kg
|
||||
Vôi
|
1.500 kg
|
1.500 kg
|
||||
Borat
|
5 kg
|
5 kg
|
||||
Lân
super
|
133 kg
|
133 kg
|
||||
Urê
|
73 kg
|
73 kg
|
||||
NPK
15-5-20
|
1.375
|
275
|
50 kg
|
150 kg
|
400 kg
|
500 kg
|
Can
xi-bo
|
50 kg
|
25 kg
|
25 kg
|
|||
* Lưu ý: Sử dụng phân bón lá theo khuyến
cáo in trên bao bì.
- Chỉ sử dụng các loại phân
bón có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và
sử dụng tại Việt Nam.
Phần III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:
1. Sâu đục trái cà chua (Heliothis
armigera).
-
Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại
Trưởng thành hoạt động vào ban đêm, sức bay khoẻ và
xa, đẻ trứng rải rác từng quả trên mặt lá và nụ hoa. Sâu non phá hại các búp
non, nụ hoa và đục vào trái, vết đục gọn, không nham nhở. Sâu đục đến đâu đùn
phân ra đến đó, một nửa thân nằm bên ngoài, một nửa nằm trong quả.
- Các lá và chùm hoa bị sâu non ăn có thể bị gãy làm
giảm số lượng trái sau này. Thiệt hại nặng khi sâu non xâm nhập vào thường dễ
bị thối, giảm giá trị sản phẩm khi thu hái.
1.2 Biện pháp phòng trừ:
- Thường xuyên ngắt bỏ các quả bị sâu hại, bấm ngọn,
tỉa cành cà chua để tránh sự lây lan và tích lũy số lượng sâu trên đồng ruộng.
- Loại sâu này có tính kháng thuốc rất cao, nhất là
nhóm cúc tổng hợp. Luân phiên sử dụng các loại thuốc sau để phòng như: Abamectin (Aremec 18E, Bamectin 1.8 EC,
Plutel 0.9EC, Reasgant 1.8EC), Emamectin
benzoate: (Emaben 0.2 EC, Ematin 1.9 EC); Oxymatrine: (Vimatrine
0.6 L); Spinosad: (Akasa 25 SC, 250
WP) phun sau khi thấy trưởng thành xuất hiện 3-4 ngày hoặc sau thời kỳ hoa nở.
2. Ruồi hại lá (Liriomyza
spp.)
-
Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại
Trưởng thành là loài ruồi nhỏ, màu đen. Sâu non là
dạng dòi, không chân, màu trắng trong, phần trước hơi vàng. Nhộng màu nâu vàng,
dính trên lá chỗ cuối đường đục hoặc rơi xuống mặt đất. Vòng đời trung bình
25-30 ngày.
Trưởng thành cái dùng gai đẻ trứng vào dưới biểu bì
của lá và chích hút nhựa cây tạo thành những vết sần sùi trên lá. Sâu non tạo
những đường đục ngoằn ngoèo, màu trắng xuất hiện do dòi tạo nên, tạo điều kiện
cho vi khuẩn và nấm xâm nhập. Nếu bị hại nặng sẽ làm giảm khả năng quang hợp,
làm giảm năng suất cây trồng.
-
Biện pháp phòng trừ:
+
Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa
những lá già, tiêu hủy tàn dư cây trồng thường xuyên là biện pháp tích cực làm
giảm mật độ nhộng ruồi còn tồn tại trong tàn dư cây trồng.
Phủ đất bằng ni lông sau đó phơi nắng hoặc cho ngập
nước trên ruộng khoảng một ngày để tiêu diệt nhộng trong đất.
+ Biện pháp vật lý: Có thể dùng bẫy dính màu vàng để
thu hút và tiêu diệt ruồi trưởng thành. Biện pháp này cần được triển khai đồng
loạt, áp dụng cục bộ không mang lại hiệu quả.
+ Biện pháp hóa học: Ruồi có khả năng hình thành tính
kháng thuốc rất cao, cần thường xuyên luân phiên thay đổi thuốc sử dụng bằng
các hoạt chất Abamectin: (Binhtox 1.8 EC, Abatin 1.8 EC); Spinetoram: (Radiant 60SC); Spinosad:
(Akasa 25 SC, Suhamcon 25SC)…
3. Bọ phấn (Bemisia
tabaci)
3.1. Đặc điểm hình thái, tập
quán sinh sống và gây hại
- Trưởng thành hoạt động vào sáng sớm và chiều mát.
Sâu non bò chậm chạp trên lá, cuối tuổi 1 chúng ở mặt dưới lá, tại đó lột xác
và sống cố định cho đến lúc hoá trưởng thành. Bọ phấn hút nhựa cây làm cho cây
có thể bị héo, ngã vàng và chết. Bọ phấn tiết ra dịch ngọt là môi trường cho
nấm muội đen phát triển.
- Bọ phấn còn truyền các bệnh virus gây bệnh cho cây.
3.2 Biện pháp phòng trừ:
- Không luân canh cà chua với cây kí chủ khác của bọ
phấn.
- Vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá già, các bộ phận bị
hại đặc biệt là các loại cỏ dại là ký chủ của bọ phấn xung quanh ruộng nhằm hạn
chế lây lan.
- Dùng bẫy dính màu vàng để thu hút và tiêu diệt bọ
phấn trưởng thành (áp dụng để dự báo thời điểm xuất hiện của trưởng thành)
- Khi vườn bị nhiễm bọ phấn có thể dùng luân phiên các
loại thuốc sau: Thiamethoxam: (Actara
25WG), Dinotefuran: (Oshin 20WP); Citrus
oil: (MAP Green 10AS).
4. Bọ cưa: (Cyrtopeltis spp.)
-
Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại: Trưởng thành có cánh và bay rất nhanh. Sâu non mới nở màu
vàng nhạt sau chuyển sang màu xanh. Râu đầu và chân dài, di chuyển rất nhanh,
cơ thể không có cánh. Con non khi mới nở thường bám ở các lá non hoặc gốc cuống
lá để chích hút nhựa cây. Khi lớn dần thì chúng di chuyển ra toàn bộ các bộ
phận của cây. Thời tiết nóng khô, bọ cưa phát triển mạnh.
Bọ cưa non bám trên toàn bộ thân cây và chích hút nhựa
làm lá cây còi cọc và dần chuyển sang màu vàng nhất là lá non. Trưởng thành
tiện quanh thân cây tạo thành một vòng tròn màu nâu, khi gặp gió sẽ làm thân
cây gãy ngang ngay tại vết tiện. Là môi giới truyền bệnh virus cho cây.
- Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, vặt bỏ những
lá bọ cưa xuất hiện nhiều để hạn chế lây lan, gieo trồng mật độ vừa phải, bón
phân và tưới nước đầy đủ đặc biệt trong thời điểm mùa khô. Hiện chưa có thuốc
BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bọ cưa hại cà chua. Có thể tham khảo
sử dụng các hoạt chất Imidacloprid, Thiamethoxam, Dinotefuran để phòng trừ.
5. Bọ trĩ (Thrips):
- Đặc điểm hình thái,
tập quán sinh sống và gây hại: Bọ trĩ
rất nhỏ, màu vàng nhạt. Bọ trĩ di chuyển rất nhanh, khi trời nắng chúng chui
nấp trong bẹ lá hoặc trong các lớp lá non ở ngọn, chúng thường phát triển trong
mùa khô.
Chích hút ở lá non để lại những đốm tròn trong như giọt
dầu, ở giữa có một chấm vàng, lúc đầu vàng trắng, sau biến
thành nâu đen. Khi bị
hại, các chồi non, lá non, nụ hoa không phát triển, cánh hoa bị quăn lại.
- Biện pháp phòng trừ: Tưới nước đủ ẩm trong điều kiện mùa
khô, ngắt bỏ những lá, hoa có mật độ bọ trĩ cao để giảm mật số trên đồng ruộng.
Hiện nay, chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để
phòng trừ bọ trĩ hại cà chua. Có thể sử dụng các hoạt chất sau để phòng trừ: Thiamethoxam:
Actara 25WG; Imidacloprid: (Confidor 100SL, Admire 50EC); Matrine:
Sokupi 0.36AS, Dinotefuran: (Oshin 20WP, Chat 20WP).
6. Sâu khoang: (Spodoptera sp.)
- Đặc điểm hình thái,
tập quán sinh sống và gây hạ: Trưởng
thành màu xám hoặc nâu xám, các cánh trước màu nâu vàng có các vân đen trắng. Cánh
sau màu hơi trắng. Chúng thường không bay xa và đẻ trứng gần nơi chúng xuất
hiện. Trứng được đẻ thành ổ lớn ở mặt dưới các lá của cây chủ, sâu non mới nở
ăn thành nhóm, khi lớn hơn chúng phân tán dần, nhộng màu đỏ sẫm. Sâu khoang ăn toàn bộ thịt lá của cây chủ chỉ
chừa lại gân lá. Mật độ sâu cao có thể làm cho lá cà chua rụng rất nhanh
- Biện pháp phòng trừ: Thu gom và tiêu hũy toàn bộ tàn dư cây trồng và
làm sạch cỏ dại sẽ giảm được mật độ sâu. Cày đất kỹ, phơi đất trước trồng để tiêu diệt nhộng. Sử dụng bẫy bả chua ngọt để dẫn dụ và tiêu diệt trưởng thành.
Hiện nay, chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ sâu khoang hại cà chua.
Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Abamectin, Azadirachtin:
BT, Deltamethrin để phòng trừ.
7. Sâu xám: (Agrotis
sp.)
- Trưởng thành giao phối và đẻ trứng ban đêm, thích mùi chua ngọt. Đẻ trứng
rời rạc thành từng quả trên mặt đất. Sâu non mới nở gặm lấm tấm biểu bì lá cây,
sâu lớn tuổi sống dưới đất, ban đêm bò lên cắn đứt gốc cây. Sâu đẫy sức hoá
nhộng trong đất. Sâu xám phát sinh trong điều kiện thời tiết lạnh, ẩm độ cao,
chủ yếu phá hại khi cây còn nhỏ.
- Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, làm đất kỹ trước khi trồng.
Hiện nay, chưa có thuốc BVTV đăng
ký trong danh mục để phòng trừ sâu xám hại cà chua, dùng một số chế phẩm sinh
học để phun hoặc rải xuống đất, xung quanh gốc cây như: Metarhizium
anisopliae var. Anisopliae: (Metament 90 DP) để phòng trừ.
Phần IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:
1. Bệnh chết cây con trong vườn ươm: Do
nấm Pythium sp.,
Phytophthora pesrasitica và Rhizoctonia solani
Bệnh chỉ xuất hiện phổ biến quanh khu đất trồng cây con, phần thân dưới
thối khô có màu nâu sẫm đến đen. Sự thối thường giới hạn ở phần ngoài của thân
và các cây bị nhiễm có thể bị đổ hoặc hơi thẳng nhưng lá bị rũ, xám bóng và có
màu xanh lục. Những cây bị nhiễm sẽ còi cọc và chết.
Bệnh chết cây con do các loại nấm Pythium sp., Phytophthora pesrasitica và Rhizoctonia solani. Nấm gây bệnh tồn tại trong đất, thích
hợp với ẩm độ và nhiệt độ cao. Nấm Rhizoctonia solani thích môi trường
khô hơn nấm Pythium sp.
- Biện pháp phòng trừ:
Tránh đặt vườn nơi bị che quá tối hay ẩm ướt, vệ sinh
vườn ươm, tiêu hủy tàn dư cây trồng định kỳ, không bón phân đạm khi vườn cây có
triệu chứng nhiễm bệnh. Canh tác trên đất thoát nước tốt.
- Có thể sử dụng các loại thuốc: Chitosan: (Tramy 2 SL)…; Kasugamycin (min 70 %): (Bisomin 2SL,
Grahitech 2SL, Kamsu 2SL), Ningnanmycin
(Diboxylin 2 SL) … để phòng ngừa.
2. Bệnh mốc sương: (do nấm Phytophthora infestans gây ra)
- Triệu chứng, nguyên
nhân, điều kiện phát sinh phát triển bệnh: Bệnh gây hại trên các bộ phận của cây như: Lá, thân, rễ, hoa, trái.
Trên lá: Lúc đầu là một đốm nhỏ màu xanh tái hơi ướt, không có ranh giới rõ
rệt ở mép lá. Sau lan vào phía trong phiến lá thành vết lớn, màu nâu đen, có
ranh giới rõ rệt. Mặt dưới lá có lớp trắng xốp, bệnh nặng toàn bộ phiến lá bị
khô.
Trên thân cành: vết bệnh lúc đầu có hình bầu dục nhỏ, sau lan rộng bao
quanh thân làm thân thối mềm, úng nước và dễ gãy.
Trên hoa: vết bệnh màu nâu hoặc nâu đen ở đài hoa, sau đó lan rộng làm cho
hoa bị rụng. Trên quả: vùng nhiễm bệnh có màu nâu đậm, cứng và nhăn. Khi trời
ẩm ướt làm cho quả bị thối.
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm, mát, nhiệt độ 18-220C.
- Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, trồng cây giống khoẻ, sạch bệnh, nên
trồng thưa hơn trong mùa mưa và làm giàn cẩn thận, định hình chùm hoa chùm quả.
Bố trí hướng luống theo đông tây tạo điều kiện cho ánh nắng xuyên vào nhanh làm
ráo những giọt sương trên lá ngăn ngừa bào tử nảy mầm.
+ Biện pháp hóa học: Luân phiên sử dụng một số
loại thuốc sau để phòng trừ: Zineb
(Tigineb 80 WP, Zineb Bul 80WP), Mancozeb 640g/kg + Metalaxyl – M 40g/kg (Ridomil gold 68WP), Azoxystrobin 200g/l + Difenoconazole 125g/l:
(Amistar top 325SC); Mandipropamid
40g/l + Chlorothalonil 400g/l (Revus opti 440SC).
3. Bệnh héo rũ: Có 3 loại hình héo rũ trên cây họ cà do 3 loại nấm khác nhau gây ra; Héo
rũ chết vàng; Héo rũ lở cổ rễ; Héo rũ trắng gốc. Các loại bệnh này là loại bệnh
nguy hiểm gây thiệt hại đáng kể cho người sản xuất.
Héo rũ chết vàng: (Fusarium oxysporum) Bệnh thường thể hiện triệu chứng thối gốc, phá hại các
giai đoạn sinh trưởng của cây. Cây bệnh lá bị héo vàng rồi khô chết. Phần giáp
vết bệnh có màu nâu hay màu xám nham nhở. Thân giáp mặt đất thường khô tóp và
có màu vàng nhạt, ranh giới không rõ ràng. Trên vết bệnh có lớp nấm trắng mịn,
phớt hồng.
Nấm phát triển nhanh ở nhiệt độ 25-300C, ruộng đất cát, chua,
thiếu đạm và lân thường bị bệnh nhiều.
Héo rũ lở cổ rễ
(Rhizoctonia solani) Bệnh phá hại ở rễ, mầm, củ và thân. Khi nấm xâm nhập vào
củ thì làm cho củ không nảy mầm được, hoặc cây con bị héo rũ ngay. Rễ và thân
giáp mặt đất có nhiều u sần sùi, vết bệnh có màu nâu bao quanh, sau đó bị thối.
Nếu trời ẩm ướt thì trên vết bệnh có lớp nấm trắng ngà.
Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển là 20-250C.
Héo rũ trắng gốc
(Sclerotium rolfsii): Bệnh xuất hiện ở
các giai đoạn sinh trưởng của cây và gây hại trên thân, gốc sát mặt đất. Vết
bệnh ở gốc có màu nâu nhạt và thường có tản nấm trắng xốp. Bệnh thường làm mục
nát lớp vỏ bao quanh thân, nấm nảy mầm thích hợp ở nhiệt độ 25-300C. Bệnh phát sinh gây hại nặng trong
điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao.
- Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, chọn giống sạch bệnh, luân canh với
các cây trồng khác họ, không tưới nước quá ẩm, trồng cây trên những chân đất
cao ráo, dễ thoát nước. Xử lý đất bằng
Sunfat đồng (3kg/1000m2).
Biện pháp hóa học: Sử dụng luân phiên các loại: Cytokinin: (Geno 2005 2SL),…; Garlic
oil 2% + Ningnanmycin 3%: (Lusatex 5SL),…;Kasugamycin: (Bisomin 2SL),…; Ningnanmycin: (Diboxylin 2SL, Molbeng
2SL, Bonny 4SL).
4. Bệnh héo xanh vi khuẩn: (Ralstonia
solanacearum)
- Triệu chứng của bệnh là cây héo đột ngột mà lá không chuyển màu vàng. Lõi
cây và rễ bị úng nước và sau đó chuyển màu nâu, đôi khi lõi cây trở nên rỗng,
rễ mọc ra từ thân cây. Quá trình chuyển màu vàng và thối rễ, số lá khô và héo
tăng cho đến khi cây chết. Khi thân hoặc rễ mới bị nhiễm bệnh bị cắt chéo và ấn
mạnh gần miệng cắt có thể thấy dịch vi khuẩn màu xám sau chuyển sang màu vàng.
Chất này có chứa nhiều vi khuẩn.
Bệnh do vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây ra. Vi khuẩn phát triển mạnh ở nhiệt độ 30-350C,
vi khuẩn tồn tại trong đất, tàn dư cây trồng, một số loài cỏ dại và trong nước.
Vi khuẩn có thể lan truyền qua hạt giống, cây giống bị nhiễm hoặc dao cắt và
các dụng cụ khác, dễ dàng xâm nhập vào cây qua các vết thương cơ giới.
- Biện pháp phòng trừ:
Sử dụng các giống cà chua ghép, thường xuyên thu gom
tiêu hủy các cây bệnh trên vườn, luân canh với cây trồng khác họ. Tăng cường phân
hữu cơ cho cây khỏe để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây.
Các dụng cụ như dao, kéo tỉa cành bấm ngọn cần thiết phải khử trùng liên
tục nếu trên ruộng đã xuất hiện bệnh. Ruộng trồng cà chua phải bằng phẳng, bởi
vì vi khuẩn sẽ lây lan theo dòng nước trong đất, khi tưới hoặc mưa. Thường đất
pha cát, nghèo dinh dưỡng bị bệnh nặng hơn các chân đất khác.
Không trồng cà chua trên đất đã bị nhiễm bệnh nặng.
Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng các loại thuốc sau Ningnanmycin: (Ditacin 8 L); Oxytetracycline 50g/kg+Streptomycin
50 g/kg: (Miksabe 100WP); Oxytetracycline hydrochloride 55% + Streptomycin
Sulfate 35%: (Marthian 90SP); Streptomycin sulfate: (BAH 98SP) Bacillus
subtilis: (Biobac 50WP).
5. Đốm lá vi khuẩn: (Xanthomonas Campestris)
- Bệnh gây hại trên lá, thân và quả từ khi cây còn nhỏ đến lúc
thu hoạch. Trên lá vết bệnh là những vết nhỏ trong mờ dạng giọt dầu, sau chuyển
màu nâu đen, xung quanh màu vàng. Phần giữa đốm bệnh khô dần và thường bị rách.
Trên thân vết bệnh có màu xanh tối, không có hình dạng nhất định, nhìn hơi ướt,
về sau chỗ vết bệnh có màu nâu và khô đi. Trên quả vết bệnh là những đốm nhỏ,
màu nâu đen, ướt, hơi nhô lên mặt quả còn xanh. Trên quả chín bệnh tạo thành
những quầng màu xanh đậm, ướt, đường kính 3-6mm, bề mặt vết bệnh bị loét và sần
sùi, chỉ ờ vỏ mà không ăn sâu vào trong quả, về sau bị khô dễ bong tróc ra.
Vi khuẩn phát triển mạnh nhiệt độ 300C, tồn tại trong hạt giống,
trong đất.
-
Biện pháp phòng trừ: Tương tự bệnh héo rũ vi khuẩn
Biện pháp hóa học: Chưa có thuốc đăng ký trong danh
mục để phòng trừ bệnh đốm lá vi khuẩn hại cà chua. Có thể tham khảo sử dụng các
loại thuốc gốc đồng, kháng sinh đã được đăng ký sử dụng trên cà chua để phòng
trừ.
6. Bệnh đốm vòng (Alternaria
solani)
-
Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng và trên các bộ
phận của cây.
Trên lá: Vết bệnh thường xuyên xuất hiện ở các lá già
phía dưới, sau lan dần lên các lá trên, vết bệnh hình tròn và có cạnh, màu nâu
sẫm, trên đó có các vòng tròn đồng tâm, màu đen.
Trên quả: Vết bệnh xuất hiện đầu tiên ở cuống hoặc tai
quả, hình tròn màu nâu sẫm, hơi lõm xuống và có vòng đồng tâm màu đen.
Trên thân: Vết bệnh màu nâu, hơi lõm và có đường tròn
đồng tâm.
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ
cao. Nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng ít nhất là một năm.
-
Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, lên luống cao
thoát nước tốt, khi cây bị bệnh không nên tưới nước vào lúc chiều mát. Bón phân
cân đối và đầy đủ, hạn chế bón phân đạm và tăng lượng phân kali khi cây bị
bệnh. Trồng đúng khoảng cách, làm giàn đỡ cho cà không bị ngã xuống.
+ Biện pháp hóa học: Sử dụng các loại thuốc như: Azoxystrobin 200g/l + Difenoconazole 125g/l (Amistar top 325SC), Azoxystrobin (Amistar 250 SC), Azoxystrobin 60g/l+Chlorothalonil 500g/l (Ortiva 560SC); Chlorothalonil (Arygreen 75WP, Forwanil
50SC), Copper Oxychloride (PN-Coppercide
50WP).
7. Bệnh xoăn lá:
- Triệu chứng:
Có rất nhiều loài virus gây hại trên cà chua: TMV (Tobacco
mosaic virus), CMV (Cucumber mosaic virus), PVX (potato virus X),
PVY (potatovirus Y), TEV (tobacco etch virus), PLRV (potato
leafroll virus), TSWV (tomato spotted wilt virus), TBB (tomato
big+bud mycoplasma), TLCV (tomaot leaf curl virus), TYLCV (tomato
yellow leaf curl virus), ToMoV (tomato mottle virus), VTMoV (Velvet
tobacco mottle virus),...
Tại Lâm đồng, bệnh thường phát sinh và gây hại nặng
trong điều kiện vụ mùa khô.
Cây cà chua bị nhiễm virus xoăn lá, cà chua sẽ phát
triển chậm chạp và trở nên còi cọc hoặc lùn... Cây sinh trưởng chậm, lá biến
dạng xoăn vào trong hướng lên trên, lá có thể biến màu vàng hoặc nhợt nhạt, có
khuynh hướng nhỏ lại về kích cỡ, số hoa và chùm hoa giảm về số lượng và kích
cỡ, trái nhỏ và giảm đáng kể về chất lượng, trái có thể chín sớm hoặc không chín (sượng trái), năng suất
giảm rõ rệt. Tuỳ thuộc vào loài virus gây hại thể hiện triệu chứng điển hình. Nếu
cây bị hại do nhiều loài virus, triệu chứng khó có thể phân biệt rõ rệt.
Ngoài triệu chứng lá bị xoăn còn có các dạng đặc trưng
sau:
+ Lá khảm (TMV/CMV): Có những đốm biến màu xanh nhạt
hoặc xanh vàng rải rác.
+ Lá dạng dương xỉ (CMV gây hại riêng lẻ hoặc kết hợp
với TMV): Phiến lá giảm gần nửa chiều rộng, có khuynh hướng dài ra như lá dương
xỉ, các gân lá nổi lên rõ rệt.
+ Lá đốm sọc (TMV): Có những đốm màu nâu cả trên các
lá bị nhăn nhúm, đốm sọc dài đậm trên
cuống lá hoặc thân.
+ Lá đốm héo (TSWV): Lá non quăn xuống ngay khi bị
nhiễm bệnh, cây ngưng phát triển, lá xuất hiện màu đồng hung hoặc các đốm vòng
màu nâu đồng.
+ Lá khảm sần sùi: Lá nhăm nhúm và phồng trên mặt lá,
cây khằng lại, nhợt nhạt.
+ Ngọn: (TLCV)
chùn ngọn, (TLYCV) vàng lá, chùn ngọn.
- Các triệu chứng trên quả:
+ Khô chùm hoa, chùm quả (TMV): Quả thụ phấn, thụ tinh
kém.
+ Quả biến màu đồng đỏ: Triệu chứng nghiêm trọng nhất
do TMV, những đốm màu nâu đồng phát
triển bên cuống trái tạo thành những đốm xuất hiện trên trái non.
+ Đốm sọc (do TMV kết hợp với virus X): Những đốm màu
nâu sáng đến đỏ đồng.
+ Đốm vằn (TSWV): Trái chín không đều, nhợt nhạt,
thường màu vàng tương phản với màu chín đỏ với các đốm tròn riêng biệt hoặc các
vằn bất thường.
+ Khảm trái: Có các vân như cẩm thạch với các vùng vỏ
mỏng.
+ Trái sượng: Trái không chín hoặc bị sượng.
- Các triệu chứng trên hạt,
cây con:
TMV lan truyền qua hạt giống, cây con ngưng phát
triển, lá hẹp lại với các dạng khảm vằn hoặc biến màu, nhăn nhúm.
- Nguyên nhân lây nhiễm: Do nhiều tác nhân virus gây ra, Virus bệnh xoăn
lá cà chua ở trong cây nhiễm bệnh có thể biểu hiện hoặc không biểu hiện triệu
chứng. Virus bệnh xoăn lá cà chua lây nhiễm vào cây khoẻ qua côn trùng môi
giới, hoặc lây lan cơ giới qua đất, hạt giống, tàn dư thực vật, cỏ dại, công cụ
lao động, tay người làm vườn tuỳ theo loài virus:
+ TMV; TMV; + PVX: Lây nhiễm cơ giới bởi tay, dụng cụ,
quần áo lao động trong quá trình chăm sóc, hạt giống, sản phẩm thuốc lá khô, cỏ
dại lâu năm, tàn dư thực vật.
+ CMV; CMV + PVX; PVY; TEV; TAV: Lây lan bởi rệp,
không bền vững, cơ giới bởi tay trong quá trình chăm sóc.
+ PMV: Lây lan
cơ giới.
+ TSWV: Ly lan bởi bọ trĩ.
+ TYLCV, TLCV: Lây lan bởi bọ phấn, không lây lan qua
hạt giống.
+ VTMoV: Bọ cưa (Cyrtopeltis nicotianae), không
lây lan qua hạt giống.
- Cây ký chủ:
Cà chua (Lycopersicon esculentum) l cây ký chủ
mà virus bệnh xoăn lá cà chua thường gây hại nặng trong sản xuất. Tuy nhiên,
chủng lọai các cây ký chủ có thể nhiễm bệnh sẽ khác nhau tùy theo lọai virus,
vì không phải tất cả cây ký chủ đều có triệu chứng nhiễm bệnh.
Các cây ký chủ phổ biến của loài virus xoăn lá cà
chua: cà chua, thuốc lá, cà bát, ớt, các loại cà dại, khoai tây, dưa chuột, dưa hấu, ớt, cà chua,
cần tây, đậu, chuối, các cây họ cà, cây hoa, cây cảnh…
- Các biện pháp phòng trừ
Biện pháp canh tác: Chọn các giống cà chua ít nhiễm bệnh xoăn lá virus, chống chịu được sâu
bệnh, thích nghi với điều kiện địa phương. Phủ nilon màu xám bạc để giữ ẩm, hạn chế dinh dưỡng bị
rửa trôi, hạn chế cỏ dại, sâu bệnh. Nếu không phủ nilon sau trồng nên phủ 1 lớp
cỏ tranh hoặc rơm rạ mỏng trên mặt luống. Bón phân theo quy trình sản xuất cà chua an toàn. Thu gom và tiêu hủy tàn dư trước khi trồng và định kỳ 7 -10 ngày sau khi
trồng.
Vệ sinh công cụ (dao, kéo) bằng xà phòng trước và sau
mỗi lần cắt tỉa lá, cành. Trình tự thao tác đúng: Cắt tỉa cây khỏe trước, cây
bệnh sau.
Biện pháp vật lý: Dùng bẫy dính màu
vàng (kích thước bẫy 20x30cm, đặt bẫy so le 3m/cái) để thu hút con trưởng thành
các côn trùng bọ trĩ, bọ phấn. Dùng giấy bạc treo trên ngọn cây tạo
ánh sáng phản xạ xua đuổi côn trùng chích hút, dùng lưới côn trùng bảo vệ vườn
trồng. Dùng lưới quây xung quanh vườn với chiều cao 1,8-3,5m (nơi ánh
sáng ít, gió yếu quây lưới thấp 1,8m).
Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa
học theo phương châm “hạn chế, làm chậm
sự tấn công của côn trùng chích hút vào vườn cà chua”. Quản lý tốt các
loại môi giới truyền bệnh như bọ trĩ, bọ phấn, rầy rệp.
Các loại thuốc phòng trừ: Cytosinpeptidemycin (Sat 4AS), Ningnanmycin
(Ditacin 8SL, Somec 2SL) để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây.
8. Tuyến trùng hại rễ:
- Triệu chứng gây hại: Tuyến trùng chích
hút rễ của nhiều loại cây làm cho rễ cây phình ra tạo ra các khối u của rễ, làm
cây phát triển chậm, còi cọc, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn tấn công
như vi khuẩn gây bệnh héo xanh.
Tuyến trùng là những con giun nhỏ sống trong đất, có thể
di chuyển một khoảng cách ngắn. Tuy vậy, biện pháp lan truyền quan trọng nhất
là chúng ở trong đất bám vào chân người, súc vật, dụng cụ làm ruộng v.v...
Tuyến trùng cũng có thể lan truyền theo dòng nước tiêu, cây giống, phân bón.
- Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp canh tác: Tăng cường bón phân ủ vào ruộng sẽ
tăng lượng vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng hại rễ. Luân canh với cây hành
và một số cây trồng ít nhiễm tuyến trùng.
Biện pháp hóa học: Xử lý đất bằng Chitosan: Stop 5 DD…;Cytokinin:
Geno 2005 2 SL, Sincocin 0.56 SL, Paecilomyces lilacinus: Palila 500WP
(5 x 109cfu/g)…
Phần V. Thu hoạch,
phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:
- Khi quả cà chua đã đẫy, vỏ quả căng, bóng láng chuyển
từ xanh sang màu đỏ là quả đã chín có thể thu hoạch. Thu hái quả và xếp vào sọt
nhẹ nhàng, tránh dập quả. Để riêng những quả bị bệnh hay bị tổn thương.
- Sản phẩm thu hoạch không bị
dính đất, cát, đưa vào két nhựa hoặc giỏ tre theo yêu cầu khách hàng.

Đăng nhận xét